Phân biệt 3 loại đá thường gặp trên trái đất

Trong địa chất , hình ảnh của các loại đá có thể được sử dụng để giúp bạn xác định tốt nhất loại nào trong ba loại chính mà một loại đá cụ thể thuộc về: đá lửa, trầm tích hoặc biến chất.

Bằng cách so sánh mẫu đá của bạn với các ví dụ về ảnh, bạn có thể xác định các đặc điểm chính như cách đá được hình thành, khoáng chất và các vật liệu khác chứa trong đó, và đá có thể đến từ đâu.

Sớm hay muộn, bạn nhất định gặp phải những chất cứng, giống như đá không phải là đá. Những vật phẩm này bao gồm các chất nhân tạo như bê tông và gạch, cũng như đá từ ngoài vũ trụ (như thiên thạch) có nguồn gốc đáng ngờ.

Trước khi bắt đầu quá trình nhận dạng, hãy chắc chắn rằng mẫu của bạn đã được rửa sạch để loại bỏ bụi bẩn. Bạn cũng sẽ muốn đảm bảo rằng bạn có một bề mặt mới cắt để bạn có thể xác định màu sắc, cấu trúc hạt, phân tầng, kết cấu và các đặc điểm khác.

Đá magma

Đá magma được tạo ra bởi hoạt động núi lửa, hình thành từ magma và dung nham khi chúng nguội và cứng lại. Nó thường có màu đen, xám hoặc trắng và thường có hình dạng nướng.

Đá magma có thể hình thành các cấu trúc tinh thể khi nó nguội đi, tạo cho nó một hình dạng hạt; nếu không có tinh thể hình thành, kết quả sẽ là thủy tinh tự nhiên. Ví dụ về đá lửa phổ biến bao gồm:

  • Đá bazan: Được hình thành từ dung nham silic thấp, đá bazan là loại đá núi lửa phổ biến nhất. Nó có cấu trúc hạt mịn và thường có màu từ đen đến xám.
  • Đá granit  Loại đá lửa này có thể có màu từ trắng đến hồng đến xám, tùy thuộc vào sự pha trộn của thạch anh, fenspat và các khoáng chất khác mà nó chứa. Đây là một trong những loại đá phong phú nhất trên hành tinh.
  • Obsidian: Điều này được hình thành khi dung nham silic cao nguội đi nhanh chóng, tạo thành thủy tinh núi lửa. Nó thường có màu đen bóng, cứng và giòn.

Đá trầm tích

Đá trầm tích, còn được gọi là đá phân tầng, được hình thành theo thời gian bởi gió, mưa và hình thành băng hà. Những tảng đá này có thể được hình thành do xói mòn, nén hoặc hòa tan. Đá trầm tích có thể có màu từ xanh lục đến xám, hoặc đỏ đến nâu, tùy thuộc vào hàm lượng sắt và thường mềm hơn đá lửa. Ví dụ về đá trầm tích phổ biến bao gồm:

  • Bauxite: Thường được tìm thấy ở hoặc gần bề mặt trái đất, loại đá trầm tích này được sử dụng để sản xuất nhôm. Nó dao động từ đỏ đến nâu với cấu trúc hạt lớn.
  • Đá vôi: Được hình thành bởi đá vôi hòa tan, loại đá sần sùi này thường chứa hóa thạch từ đại dương vì nó được hình thành bởi các lớp san hô chết và các sinh vật biển khác. Nó dao động từ màu kem đến màu xám đến màu xanh lá cây.
  • Halite: Thường được gọi là muối đá, đá trầm tích này được hình thành từ natri clorua hòa tan, tạo thành các tinh thể lớn.

Đá biến chất

Sự hình thành đá biến chất xảy ra khi đá trầm tích hoặc đá lửa biến đổi, hoặc biến chất, bởi các điều kiện dưới lòng đất.  Bốn tác nhân chính chịu trách nhiệm cho đá biến chất là nhiệt, áp suất, chất lỏng và sức căng, tất cả đều có khả năng hoạt động và tương tác theo nhiều cách gần như vô tận.  Hầu hết hàng ngàn khoáng chất quý hiếm được khoa học biết đến xảy ra trong đá biến chất. Các ví dụ phổ biến về đá biến chất bao gồm:

  • Đá cẩm thạch:  Loại đá vôi biến chất, hạt thô này có màu từ trắng đến xám đến hồng. Các dải màu (được gọi là tĩnh mạch) tạo cho đá cẩm thạch hình dạng xoáy đặc trưng của nó là do tạp chất khoáng sản.
  • Phyllite : Loại đá phiến biến chất sáng bóng, nhiều màu sắc này có màu từ đen đến xám xanh và có thể nhận ra bởi các mảnh mica mà nó chứa.
  • Serpentinite: Đá có vảy màu xanh lá cây này được hình thành dưới đại dương khi trầm tích bị biến đổi bởi sức nóng và áp lực.

Đá và vật thể giống như đá khác

Tuy nhiên, chỉ vì một mẫu trông giống như một tảng đá không có nghĩa là nó là một. Dưới đây là một số phổ biến nhất mà các nhà địa chất gặp phải:

  • Thiên thạch là (thường) hình thành nhỏ, giống như đá được đúc từ ngoài vũ trụ sống sót sau chuyến đi đến trái đất. Một số thiên thạch chứa vật liệu đá ngoài các nguyên tố như sắt và niken, trong khi một số khác chỉ bao gồm các hợp chất khoáng.
  • Bê tông giống như khối mịn, thường thuôn dọc theo lòng sông, dường như được gắn kết với nhau. Đây không phải là đá, mà là các khối được hình thành bởi bụi bẩn, khoáng chất và các mảnh vụn từ nước khác.
  • Fulgurite là những khối cứng, lởm chởm, hình thuôn được hình thành bởi đất, đá và / hoặc cát đã được hợp nhất với nhau bằng một tia sét.
  • Geodes là đá trầm tích hoặc biến chất có chứa bên trong rỗng, chứa đầy khoáng chất như thạch anh.
  • Thundereggs là những khối rắn chắc, chứa đầy mã não được tìm thấy ở các vùng núi lửa. Chúng giống như geodes với mở.

Domin Võ

Dành ra 12 tiếng/ngày cho công việc tẻ nhạt ở ngân hàng, chỉ khi viết bài cho Mingeek, anh ấy mới thật sự là chính mình. Anh muốn cho mọi người thấy rằng, khoa học không nhàm chán như trong SGK đâu! Nếu các bạn phát hiện sai sót gì trong bài, có thể liên hệ với anh ấy qua Facebook bên dưới. Hoặc nếu bạn muốn trò chuyện về Khoa học, hãy kết bạn luôn nào <3

Related Articles

Back to top button

Adblock Detected

Please consider supporting us by disabling your ad blocker