Chất béo là gì? 10 sự thật thú vị về chất béo lipid

Định nghĩa lipid

Lipid rất đa dạng về cả cấu trúc và chức năng tương ứng. Những hợp chất đa dạng tạo nên họ lipid được nhóm lại vì chúng không hòa tan trong nước. Chúng cũng hòa tan trong các dung môi hữu cơ khác như ether, acetone và các loại lipit khác. Lipid phục vụ nhiều chức năng quan trọng trong các sinh vật sống. Chúng hoạt động như các sứ giả hóa học, phục vụ như các nguồn năng lượng có giá trị, cung cấp vật liệu cách nhiệt và là thành phần chính của màng. Các nhóm lipid chính bao gồm chất béo, phospholipids, steroid và sáp.

  • Lipid, là một nhóm các hợp chất, không hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong các dung môi hữu cơ khác. Ví dụ về các dung môi như vậy bao gồm: acetone và ether.
  • Sáp, steroid, phospholipid và chất béo là những loại nhóm lipid phổ biến nhất.
  • Chất béo có glycerol ngoài ba axit béo. Cấu trúc của các axit béo quyết định xem chất béo có được coi là bão hòa hay không bão hòa hay không.
  • Phospholipids có bốn thành phần chính: axit béo, thành phần glycerol và cả nhóm phốt phát và phân tử phân cực.
  • Hoóc môn giới tính của con người, như testosterone và estrogen, được phân loại là steroid. Steroid thường có cấu trúc vòng bốn hợp nhất.
  • Sáp bao gồm một phân tử rượu và một axit béo. Cây thường có lớp phủ sáp giúp chúng tiết kiệm nước.

Vitamin hòa tan lipid

Các vitamin tan trong chất béo được lưu trữ trong mô mỡ và trong gan. Chúng được đào thải khỏi cơ thể chậm hơn các vitamin tan trong nước. Các vitamin tan trong chất béo bao gồm vitamin A, D, E và K. Vitamin A rất quan trọng đối với thị lực cũng như sức khỏe của da, răng và xương. Vitamin D hỗ trợ trong việc hấp thụ các chất dinh dưỡng khác bao gồm canxi và sắt. Vitamin E hoạt động như một chất chống oxy hóa và cũng hỗ trợ chức năng miễn dịch. Vitamin K hỗ trợ quá trình đông máu và duy trì xương chắc khỏe.

Polyme hữu cơ

Polyme hữurất quan trọng đối với sự tồn tại của tất cả các sinh vật sống. Ngoài lipid, các phân tử hữu cơ khác bao gồm:

  • Carbonhydrate: các phân tử sinh học bao gồm đường và các dẫn xuất đường. Chúng không chỉ cung cấp năng lượng mà còn rất quan trọng cho việc lưu trữ năng lượng.
  • Protein: – bao gồm các axit amin, protein cung cấp hỗ trợ cấu trúc cho các mô, hoạt động như các sứ giả hóa học, di chuyển cơ bắp, và nhiều hơn nữa.
  • Axit nucleic: – polyme sinh học bao gồm các nucleotide và quan trọng đối với sự di truyền gen. DNA và RNA là hai loại axit nucleic.

Chất béo

Chất béo bao gồm ba axit béo và glycerol. Những chất được gọi là triglyceride này có thể ở dạng rắn hoặc lỏng ở nhiệt độ phòng. Những chất rắn được phân loại là chất béo, trong khi những chất lỏng được gọi là dầu. Các axit béo bao gồm một chuỗi dài các nguyên tử cacbon với một nhóm carboxyl ở một đầu. Tùy thuộc vào cấu trúc của chúng, axit béo có thể bão hòa hoặc không bão hòa.

Chất béo bão hòa làm tăng mức cholesterol LDL (lipoprotein mật độ thấp) trong máu. Điều này làm tăng cơ hội phát triển bệnh tim mạch. Chất béo không bão hòa làm giảm mức LDL và giảm nguy cơ mắc bệnh. Trong khi chất béo đã bị chê bai đến mức nhiều người tin rằng chất béo nên được loại bỏ khỏi chế độ ăn kiêng, chất béo phục vụ nhiều mục đích hữu ích. Chất béo được lưu trữ để lấy năng lượng trong mô mỡ, giúp cách nhiệt cơ thể, đệm và bảo vệ các cơ quan

Phospholipids

Một phospholipid bao gồm hai axit béo, một glycerol, một nhóm phốt phát và một phân tử phân cực. Nhóm phốt phát và vùng đầu cực của phân tử là hydrophillic (bị hút vào nước), trong khi đuôi axit béo là kỵ nước (bị đẩy lùi bởi nước). Khi được đặt trong nước, phospholipid sẽ tự định hướng thành một lớp kép trong đó vùng đuôi không phân cực phải đối mặt với khu vực bên trong của lớp kép. Vùng đầu cực hướng ra ngoài và tương tác với nước.

Phospholipids là thành phần chính của màng tế bào, bao bọc và bảo vệ tế bào chất và các nội dung khác của tế bào. Phospholipids cũng là thành phần chính của myelin, một chất béo rất quan trọng để cách ly các dây thần kinh và tăng tốc các xung điện trong não. Chính thành phần cao của các sợi thần kinh bị myelin hóa khiến cho chất trắng trong não xuất hiện màu trắng.

Steroid và sáp

Steroid có một xương sống carbon bao gồm bốn cấu trúc giống như vòng hợp nhất. Steroid bao gồm cholesterol, hormone giới tính (progesterone, estrogen và testosterone) được sản xuất bởi tuyến sinh dục và cortisone. Sáp bao gồm một este và axit béo. Nhiều loại cây có lá và quả với lớp phủ sáp để giúp ngăn ngừa mất nước. Một số động vật cũng có lông hoặc lông phủ sáp để đẩy nước. Không giống như hầu hết các loại sáp, ráy tai bao gồm phospholipid và este của cholesterol.

10 điều bạn không biết về chất béo

Cùng với protein và carbohydrate, chất béo là một chất dinh dưỡng thiết yếu cung cấp năng lượng cho cơ thể. Chất béo không chỉ phục vụ chức năng trao đổi chất, mà còn đóng vai trò cấu trúc trong việc xây dựng màng tế bào. Chất béo được tìm thấy chủ yếu bên dưới da và rất cần thiết để duy trì làn da khỏe mạnh. Chất béo cũng giúp đệm và bảo vệ các cơ quan, cũng như cách nhiệt cơ thể chống lại sự mất nhiệt. Trong khi một số loại chất béo không lành mạnh, những loại khác được yêu cầu để có sức khỏe tốt. Khám phá một số sự thật thú vị mà bạn có thể không biết về chất béo.

1. Chất béo là chất béo, nhưng không phải chất béo nào cũng là chất béo

Lipid là một nhóm các hợp chất sinh học đa dạng được đặc trưng bởi tính không tan trong nước. Các nhóm lipid chính bao gồm chất béo, phospholipids, steroid và sáp. Chất béo, còn được gọi là triglyceride, bao gồm ba axit béo và glycerol. Triglyceride là chất rắn ở nhiệt độ phòng được gọi là chất béo, trong khi chất béo trung tính là chất lỏng ở nhiệt độ phòng được gọi là dầu.

2. Có hàng tỷ tế bào mỡ trong cơ thể

Trong khi các gen của chúng ta xác định số lượng tế bào mỡ mà chúng ta sinh ra, trẻ sơ sinh thường có khoảng 5 tỷ tế bào mỡ. Đối với người trưởng thành khỏe mạnh với thành phần cơ thể bình thường, con số này dao động từ 25-30 tỷ đồng. Người trưởng thành thừa cân trung bình có thể có khoảng 80 tỷ tế bào mỡ và người trưởng thành béo phì có thể có tới 300 tỷ tế bào mỡ.

3. Cho dù bạn ăn chế độ ăn ít chất béo hay chế độ ăn nhiều chất béo, tỷ lệ phần trăm của calo từ chất béo chế độ ăn uống không liên quan đến bệnh tật

Vì nó liên quan đến việc phát triển bệnh tim mạch và đột quỵ, đây là loại chất béo bạn ăn không phải là tỷ lệ phần trăm calo từ chất béo làm tăng nguy cơ của bạn. Chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa làm tăng mức cholesterol LDL (lipoprotein mật độ thấp) trong máu của bạn. Ngoài việc tăng LDL (cholesterol “xấu”), chất béo chuyển hóa còn làm giảm HDL (cholesterol “tốt”), do đó làm tăng nguy cơ phát triển bệnh. Chất béo không bão hòa đa và không bão hòa đơn làm giảm mức LDL và giảm nguy cơ mắc bệnh.

4. Mô mỡ được cấu tạo từ các tế bào mỡ

Mô mỡ (mô mỡ) có thành phần chủ yếu là tế bào mỡ. Các tế bào mỡ là các tế bào mỡ chứa các giọt chất béo được lưu trữ. Các tế bào này sưng lên hoặc co lại tùy thuộc vào việc chất béo đang được lưu trữ hoặc sử dụng. Các loại tế bào khác bao gồm mô mỡ bao gồm nguyên bào sợi, đại thực bào, dây thần kinh và tế bào nội mô.

5. Mô mỡ có thể có màu trắng, nâu hoặc màu be

Mô mỡ trắng lưu trữ chất béo làm năng lượng và giúp cách nhiệt cơ thể, trong khi mỡ màu nâu đốt cháy chất béo và sinh nhiệt. Mỡ trắng màu be khác biệt về mặt di truyền với cả mỡ trắng nâu và trắng, nhưng đốt cháy calo để giải phóng năng lượng như mỡ trắng nâu. Cả chất béo màu nâu và màu be đều có màu từ sự phong phú của các mạch máu và sự hiện diện của sắt có chứa ty thể trong toàn bộ mô.

6. Mô mỡ tạo ra hoóc môn bảo vệ chống béo phì

Mô mỡ hoạt động như một cơ quan nội tiết bằng cách tạo ra các hoóc môn ảnh hưởng đến hoạt động trao đổi chất. Một chức năng chính của các tế bào mỡ là sản xuất hoóc môn adiponectin, kiểm soát chuyển hóa chất béo và tăng độ nhạy cảm của cơ thể với insulin. Adiponectin giúp tăng cường sử dụng năng lượng trong cơ bắp mà không ảnh hưởng đến sự thèm ăn, giảm trọng lượng cơ thể và bảo vệ chống béo phì.

7. Số lượng tế bào mỡ không đổi trong tuổi trưởng thành

Các nghiên cứu đã tiết lộ rằng số lượng tế bào mỡ ở người trưởng thành vẫn không đổi. Điều này đúng bất kể bạn gầy hay béo phì, hay bạn giảm hay tăng cân. Các tế bào mỡ sưng lên khi bạn tăng mỡ và co lại khi bạn giảm mỡ. Số lượng tế bào mỡ mà một cá nhân có ở tuổi trưởng thành được thiết lập trong thời niên thiếu.

8. Chất béo giúp hấp thụ vitamin

Một số vitamin, bao gồm vitamin A, D, E và K tan trong chất béo và không thể tiêu hóa đúng cách nếu không có chất béo. Chất béo giúp các vitamin này được hấp thụ ở phần trên của ruột non.

9. Tế bào mỡ có tuổi thọ 10 năm

Trung bình, các tế bào mỡ sống khoảng 10 năm trước khi chúng chết và được thay thế. Tốc độ lưu trữ và loại bỏ chất béo từ mô mỡ là khoảng một năm rưỡi đối với người trưởng thành có cân nặng bình thường. Tỷ lệ lưu trữ và loại bỏ chất béo cân bằng để không có sự gia tăng chất béo. Đối với một người béo phì, tỷ lệ loại bỏ chất béo giảm và tốc độ lưu trữ tăng. Tỷ lệ lưu trữ và loại bỏ chất béo cho một người béo phì là hai năm.

10. Phụ nữ có tỷ lệ mỡ cơ thể cao hơn nam giới

Phụ nữ có tỷ lệ mỡ cơ thể nhiều hơn nam giới. Phụ nữ cần nhiều mỡ trong cơ thể để duy trì kinh nguyệt và cũng để chuẩn bị mang thai. Một phụ nữ mang thai phải dự trữ đủ năng lượng cho bản thân và cho đứa con đang phát triển của mình. Theo Hội đồng Thể dục Hoa Kỳ, phụ nữ trung bình có từ 25-31% mỡ cơ thể, trong khi đàn ông trung bình có từ 18-24% mỡ cơ thể.


Domin Võ

Dành ra 12 tiếng/ngày cho công việc tẻ nhạt ở công tỷ, chỉ khi viết bài cho Mingeek, anh ấy mới thật sự là chính mình. Anh muốn cho mọi người thấy rằng, khoa học không nhàm chán như trong SGK đâu!

Related Articles

Back to top button

Adblock Detected

Please consider supporting us by disabling your ad blocker